Quản lý khu bảo tồn: Rõ trách nhiệm, mở rộng quyền cộng đồng

Văn bản mới nhất hướng dẫn thi hành Luật Đa dạng sinh học đã phân định rõ trách nhiệm quản lý các khu bảo tồn và tăng quyền tham gia của người dân địa phương.

Phân định rõ trách nhiệm quản lý đối với khu bảo tồn

Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa ban hành Văn bản hợp nhất số 28/VBHN-BNNMT hợp nhất các quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đa dạng sinh học. Văn bản cập nhật các nội dung sửa đổi từ nhiều nghị định trước đây, đặc biệt là những thay đổi tại Nghị định số 43/2026/NĐ-CP, qua đó hoàn thiện khung pháp lý về quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học.

Một trong những nội dung đáng chú ý của văn bản là việc làm rõ hơn trách nhiệm quản lý nhà nước đối với các khu bảo tồn. Theo quy định, thẩm quyền quản lý được phân định cụ thể giữa Trung ương và địa phương nhằm nâng cao hiệu quả điều hành và tránh chồng chéo trong thực thi.

Cụ thể, UBND tỉnh chịu trách nhiệm quản lý các khu bảo tồn có toàn bộ diện tích nằm trên địa bàn của mình. Trong khi đó, đối với các khu bảo tồn cấp quốc gia có diện tích trải dài trên địa bàn từ hai tỉnh, thành phố, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ trực tiếp quản lý.

Quy định này giúp tăng cường vai trò điều phối của cơ quan quản lý Trung ương đối với các hệ sinh thái có phạm vi liên vùng, đồng thời, bảo đảm chính quyền địa phương phát huy trách nhiệm trong quản lý, bảo vệ các khu bảo tồn thuộc phạm vi địa bàn.

Văn bản hợp nhất số 28/VBHN-BNNMT phân định rõ trách nhiệm quản lý các khu bảo tồn và tăng quyền tham gia của người dân địa phương. Ảnh: BNA. 

Văn bản hợp nhất số 28/VBHN-BNNMT phân định rõ trách nhiệm quản lý các khu bảo tồn và tăng quyền tham gia của người dân địa phương. Ảnh: BNA. 

Bên cạnh đó, văn bản cũng tiếp tục hoàn thiện các quy định về tiêu chí phân cấp khu bảo tồn, bao gồm khu dự trữ thiên nhiên, khu bảo tồn loài – sinh cảnh và khu bảo vệ cảnh quan ở cả cấp quốc gia và cấp tỉnh. Các khu bảo tồn phải đáp ứng các tiêu chí về hệ sinh thái tự nhiên, giá trị sinh thái – môi trường và khả năng phục vụ nghiên cứu khoa học, giáo dục hoặc phát triển du lịch sinh thái.

Việc làm rõ các tiêu chí và thẩm quyền quản lý được kỳ vọng sẽ giúp hệ thống khu bảo tồn được tổ chức chặt chẽ hơn, đồng thời tạo cơ sở pháp lý để triển khai hiệu quả các hoạt động bảo tồn thiên nhiên.

Mở rộng quyền tham gia và khai thác hợp pháp của người dân

Bên cạnh việc phân định trách nhiệm quản lý nhà nước, văn bản hợp nhất cũng nhấn mạnh vai trò của cộng đồng dân cư sinh sống hợp pháp trong khu bảo tồn. Đây được xem là một trong những điểm đáng chú ý nhằm tăng cường sự tham gia của người dân vào công tác bảo tồn đa dạng sinh học.

Theo quy định, hộ gia đình và cá nhân sinh sống hợp pháp trong khu bảo tồn – những trường hợp có quyền sử dụng đất hợp pháp theo quy định của pháp luật về đất đai sẽ được hưởng các quyền và nghĩa vụ theo Luật Đa dạng sinh học, đồng thời có thêm một số quyền ưu tiên nhất định.

Trong đó, người dân được ưu tiên khai thác đất, mặt nước và rừng để phục vụ các hoạt động sản xuất như canh tác nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản hoặc các mục đích khác không bị pháp luật cấm. Quy định này nhằm bảo đảm sinh kế cho cộng đồng địa phương trong khi vẫn duy trì mục tiêu bảo tồn tài nguyên thiên nhiên.

Ngoài ra, người dân còn được ưu tiên tham gia các dự án phát triển du lịch sinh thái và các hoạt động dịch vụ trong khu bảo tồn, qua đó tạo thêm nguồn thu nhập gắn với việc bảo vệ hệ sinh thái. Cộng đồng địa phương cũng có cơ hội tham gia vào các hoạt động quản lý khu bảo tồn hoặc được tuyển dụng làm việc tại các đơn vị quản lý.

Một điểm đáng chú ý khác là quy định về chia sẻ lợi ích. Theo đó, người dân có thể được hưởng lợi từ các hoạt động kinh doanh du lịch, các dự án hỗ trợ khu bảo tồn hoặc từ việc tiếp cận và sử dụng nguồn gen trong khu bảo tồn theo quy định của pháp luật.

Song song với các quyền lợi này, người dân cũng phải thực hiện nghĩa vụ bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là nghĩa vụ bảo vệ rừng theo quy định của pháp luật về lâm nghiệp.

Những quy định trên cho thấy định hướng tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong quản lý và bảo tồn thiên nhiên. Khi người dân vừa được bảo đảm sinh kế, vừa được tham gia quản lý và hưởng lợi từ tài nguyên, hiệu quả bảo tồn đa dạng sinh học sẽ được nâng cao và bền vững.

Theo nongnghiepmoitruong.vn