Từ Hội nghị COP26 năm 2021 đến nay, Việt Nam đã từng bước tạo lập khung pháp lý nhất quán về giảm phát thải khí nhà kính và huy động nguồn lực xã hội.
Lựa chọn hành động
Tại COP 21, Việt Nam tuyên bố đưa mức phát thải ròng về 0 vào năm 2050; cắt giảm 30% lượng khí mê-tan vào năm 2030 và tham gia Tuyên bố chung toàn cầu về Chuyển đổi từ than sang năng lượng sạch.
Chia sẻ về các nỗ lực của Việt Nam trong 5 năm qua để triển khai các cam kết tại Hội nghị lần thứ 21 các Bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu (COP 21) năm 2021, ông Lương Quang Huy, Trưởng phòng Quản lý phát thải khí nhà kính (Cục Biến đổi khí hậu) cho biết: Để đưa cam kết quốc tế vào thực tiễn, Chính phủ đã thành lập Ban chỉ đạo về thực hiện cam kết tại COP26 để chỉ đạo, điều hành việc lồng ghép các mục tiêu ứng phó biến đổi khí hậu vào toàn bộ chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội.
Hành lang pháp lý dần hoàn thiện, từ Luật Bảo vệ môi trường, Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu, Nghị định 06/2022/NĐ-CP và Nghị định 119/2025/NĐ-CP… Trong quy hoạch phát triển, Quy hoạch điện VIII đã đặt nền móng chuyển đổi mạnh mẽ bằng cách giảm phụ thuộc vào năng lượng hóa thạch và mở rộng năng lượng tái tạo.

Việt Nam đã thí điểm sàn giao dịch các-bon trong nước và có quy định riêng về trao đổi tín chỉ các-bon quốc tế. Ảnh: DCC.
Cam kết của Việt Nam tại Hội nghị COP26 cũng phát đi tín hiệu mạnh mẽ đến cộng đồng quốc tế, mở ra cơ hội tận dụng sự dịch chuyển của nguồn tài chính toàn cầu cho phát triển ít phát thải vào Việt Nam. Nhiều tổ chức quốc tế, đối tác phát triển, tập đoàn lớn; đặc biệt là các định chế tài chính, tập đoàn lớn về năng lượng tái tạo đã cam kết, ký kết hợp tác với Việt Nam.
Các trụ cột giảm phát thải
Đi sâu vào từng lĩnh vực cụ thể, các giải pháp và tiềm năng giảm phát thải đến năm 2030 rất cụ thể.
Lĩnh vực năng lượng có tiềm năng giảm khoảng 154,62 triệu tấn CO2tđ. Những giải pháp trọng tâm là đẩy mạnh thay thế nhiên liệu hóa thạch bằng năng lượng tái tạo (điện gió, mặt trời), áp dụng công nghệ tiết kiệm năng lượng trong công nghiệp, công trình xây dựng, khuyến khích giao thông xanh và sử dụng xe điện.
Lĩnh vực nông nghiệp có tiềm năng giảm khoảng 96,17 triệu tấn CO2tđ. Hiện nay, các giải pháp đang được nhân rộng như chuyển đổi phương thức canh tác theo kỹ thuật “1 phải 5 giảm” và tưới ngập khô xen kẽ (AWD) để giảm khí mê-tan với Đề án 1 triệu héc-ta lúa chất lượng cao và phát thải thấp tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Lĩnh vực lâm nghiệp và sử dụng đất – LULUCF có tiềm năng hấp thụ 100 triệu tấn CO2tđ. Những năm qa, Việt Nam đã thực hiện nghiêm chính sách đóng cửa và bảo vệ rừng tự nhiên nhằm duy trì, nâng cao trữ lượng các-bon; nâng cao hiệu quả chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng và tham gia các thỏa thuận mua bán tín chỉ các-bon rừng quốc tế.

Nhà nước khuyến khích chuyển đổi công nghệ sản xuất, xử lý chất thải theo hướng giảm phát thải khí nhà kính. Ảnh: Kiều Chi.
Lĩnh vực quản lý chất thải có tiềm năng giảm khoảng 37,96 triệu tấn CO2tđ. Hiện nay, chính sách phân loại rác tại nguồn đã được triển khai. Nhà nước cũng khuyến khích chuyển đổi từ chôn lấp sang công nghệ hiện đại như đốt rác phát điện, đẩy mạnh tái chế rác và thu hồi khí sinh học từ chất thải hữu cơ, hệ thống xử lý nước thải.
Lĩnh vực các quá trình công nghiệp (IPPU) có tiềm năng giảm khoảng 209,54 triệu tấn CO2tđ. Các giải pháp chủ yếu là giảm tỷ lệ clinker trong sản xuất xi măng; thu hồi, tái chế và kiểm soát nghiêm ngặt các loại khí gây nóng lên toàn cầu trong ngành điện lạnh và bán dẫn; xây dựng tiêu chuẩn vật liệu xây dựng carbon thấp…

