Thực hiện Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 tại Việt Nam

Nhằm nỗ lực đạt được những mục tiêu bảo vệ và phục hồi hệ sinh thái, bảo tồn các loài có nguy cơ tuyệt chủng và nâng cao nhận thức cộng đồng, Việt Nam nỗ lực thực hiện Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Chiến lược) của Việt Nam, qua đó góp phần thực hiện Kế hoạch Đa dạng sinh học của Công ước về Đa dạng sinh học (CBD).

Việt Nam là một trong những quốc gia có mức độ đa dạng sinh học cao nhất thế giới (Theo đánh giá của Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới (WWF) và Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN), Việt Nam nằm trong 16 quốc gia có mức độ đa dạng sinh học cao nhất thế giới) bởi sự đa dạng về hệ sinh thái với khoảng 20.000 loài thực vật, 10.500 loài động vật trên cạn, 2.000 loài cá, cùng nhiều loài côn trùng, vi sinh vật chưa được nghiên cứu hết; Việt Nam có 30 vườn quốc gia, 11 khu Ramsar (đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế), 9 khu dự trữ sinh quyển thế giới được UNESCO công nhận. Nhờ có vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên thuận lợi nằm ở vùng nhiệt đới gió mùa, với địa hình đa dạng gồm đồng bằng, đồi núi, cao nguyên, rừng nhiệt đới, hệ thống sông ngòi và bờ biển dài hơn 3.260 km; sự kết hợp của nhiều yếu tố khí hậu, địa chất giúp hình thành các hệ sinh thái đa dạng, từ rừng nguyên sinh, rừng ngập mặn, san hô đến thảm cỏ biển. Không chỉ vậy, sự phong phú về loài đặc hữu và quý hiếm cũng được minh chứng qua việc Việt Nam nằm trong Trung tâm đa dạng sinh học Indo-Burma, một trong những khu vực có sự phong phú sinh học đặc biệt quan trọng trên thế giới, là nơi sinh sống của nhiều loài đặc hữu (chỉ có ở Việt Nam) như voọc chà vá chân nâu, sao la, bò sát rừng Trường Sơn, ếch cây Trương Định… Nhiều loài động thực vật quý hiếm như hổ Đông Dương, voi châu Á, tê giác Java (đã tuyệt chủng ở Việt Nam), cá sấu hoa cà được ghi nhận.

Tuy nhiên, thực trạng cho thấy các hệ sinh thái đang đối mặt với nguy cơ suy thoái nghiêm trọng do áp lực từ hoạt động kinh tế và biến đổi khí hậu. Để đối phó với tình trạng này, Chính phủ Việt Nam đã ban hành Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 với mục tiêu cụ thể nhằm bảo vệ, phục hồi và phát triển bền vững tài nguyên sinh học. Chiến lược đã đặt ra các mục tiêu lớn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 bao gồm: Tăng diện tích các khu bảo tồn lên ít nhất 9% diện tích đất liền và vùng biển; Phục hồi ít nhất 20% hệ sinh thái tự nhiên bị suy thoái; Đảm bảo ít nhất 70% các loài nguy cấp được bảo vệ và giám sát; Tích hợp đa dạng sinh học vào các chính sách phát triển kinh tế – xã hội.

Trong những năm qua, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực thực hiện chiến lược thông qua nhiều hoạt động.

Mở rộng hệ thống khu bảo tồn và công viên quốc gia: Chính phủ Việt Nam đã thành lập thêm nhiều khu bảo tồn thiên nhiên và nâng cấp các công viên quốc gia để tăng cường bảo vệ đa dạng sinh học. Các biện pháp quản lý bền vững được áp dụng nhằm đảm bảo duy trì sinh cảnh tự nhiên.

Áp dụng mô hình quản lý bền vững tài nguyên sinh học: Các mô hình như đồng quản lý rừng, khai thác thủy sản bền vững, và bảo tồn dựa vào cộng đồng được triển khai rộng rãi, giúp bảo vệ nguồn tài nguyên một cách có hiệu quả.

Thực hiện các dự án phục hồi rừng và bảo vệ môi trường biển: Các dự án trồng rừng ngập mặn, khôi phục rừng phòng hộ và bảo vệ san hô đã được triển khai tại nhiều địa phương nhằm giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu và duy trì cân bằng sinh thái.

Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong bảo tồn đa dạng sinh học: Việt Nam đã tham gia nhiều công ước quốc tế về bảo tồn, hợp tác với các tổ chức quốc tế và phi chính phủ để huy động nguồn lực và chia sẻ kinh nghiệm trong quản lý đa dạng sinh học.

Tuy nhiên, quá trình thực hiện vẫn gặp nhiều thách thức như thiếu nguồn lực tài chính, sự xâm hại của con người, và tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu khi tình trạng chặt phá rừng, khai thác tài nguyên quá mức, ô nhiễm môi trường, suy thoái hệ sinh thái nước ngọt và biển và nhận thức cộng đồng về bảo tồn còn hạn chế.

Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học là một bước đi quan trọng trong công tác bảo vệ môi trường tại Việt Nam. Mặc dù còn nhiều thách thức, nếu có sự phối hợp chặt chẽ giữa Chính phủ, doanh nghiệp, tổ chức phi chính phủ và cộng đồng, các mục tiêu đề ra hoàn toàn có thể đạt được, góp phần bảo vệ hệ sinh thái và phát triển bền vững đất nước, bằng cách: Cải thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi; Huy động nguồn lực từ khu vực tư nhân và hợp tác quốc tế; Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ trong bảo tồn; Nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cộng đồng về đa dạng sinh học./.

NBCA