Ngày 29/6, tại Đà Nẵng, Cục Bảo tồn thiên nhiên và Đa dạng sinh học (Bộ NN-MT) phối hợp với WWF-Việt Nam tổ chức hội thảo chia sẻ kinh nghiệm quốc tế về công nhận và quản lý các khu vực có các biện pháp bảo tồn hiệu quả khác ngoài khu bảo tồn (OECMs), đồng thời thảo luận định hướng áp dụng mô hình này tại Việt Nam.
Hội thảo có sự tham dự của ông Bùi Chính Nghĩa, Cục trưởng Cục Bảo tồn thiên nhiên và Đa dạng sinh học; ông Văn Ngọc Thịnh, Tổng Giám đốc WWF-Việt Nam; ông Lê Trọng Đảm, Phó Tổng Biên tập Báo NN-MT cùng đại diện các địa phương Huế, Đà Nẵng, Quảng Trị, các cơ quan quản lý, nhà khoa học, chuyên gia và các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học.

Ông Bùi Chính Nghĩa, Cục trưởng Cục Bảo tồn thiên nhiên và Đa dạng sinh học phát biểu tại hội thảo. Ảnh: L.A.
Mở rộng bảo tồn để đáp ứng mục tiêu “30×30”
Hội thảo diễn ra trong bối cảnh thế giới đang đẩy mạnh thực hiện Khung đa dạng sinh học toàn cầu Côn Minh – Montreal (KM-GBF), với mục tiêu bảo tồn ít nhất 30% diện tích đất liền và biển vào năm 2030 (mục tiêu “30×30”). Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy chỉ dựa vào hệ thống khu bảo tồn truyền thống sẽ khó đạt mục tiêu này. Vì vậy, OECM được xem là giải pháp quan trọng nhằm mở rộng không gian bảo tồn thông qua những khu vực ngoài khu bảo tồn nhưng vẫn được quản lý hiệu quả, mang lại lợi ích lâu dài cho đa dạng sinh học.
Đối với Việt Nam, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết khi quá trình đô thị hóa, phát triển kinh tế và biến đổi khí hậu đang tạo sức ép lớn lên tài nguyên thiên nhiên. Hiện cả nước có 178 khu bảo tồn thiên nhiên, mới bao phủ khoảng 7% diện tích đất liền và 2,6% diện tích biển, còn khá xa mục tiêu “30×30”. Vì vậy, Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học giai đoạn 2021-2030 đã xác định phát triển OECM là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm mở rộng không gian bảo tồn, đồng thời tạo điều kiện để cộng đồng tham gia quản lý tài nguyên gắn với phát triển sinh kế bền vững, kinh tế xanh và du lịch sinh thái.

Các đại biểu tham gia hội thảo. Ảnh: L.A.
Theo ông Bùi Chính Nghĩa, Cục trưởng Cục Bảo tồn thiên nhiên và Đa dạng sinh học, bên cạnh việc mở rộng hệ thống khu bảo tồn biển, rừng đặc dụng và khu bảo vệ nguồn lợi thủy sản, Việt Nam còn nhiều khu vực có thể áp dụng các biện pháp bảo tồn phù hợp nhằm hài hòa giữa phát triển kinh tế, ổn định đời sống người dân với bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học. Tuy nhiên, Việt Nam hiện nay vẫn chưa ban hành các hướng dẫn kỹ thuật, tiêu chí và cơ chế báo cáo chính thức cho OECMs.
“Hội thảo hôm nay là cơ hội để các bên chia sẻ kiến thức, trao đổi kinh nghiệm thực tiễn và học hỏi các bài học quốc tế, đặc biệt từ những quốc gia đã triển khai hiệu quả OECM. Kết quả thảo luận sẽ cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn quan trọng, góp phần hoàn thiện cách tiếp cận cũng như thúc đẩy triển khai OECM phù hợp với điều kiện của Việt Nam”, ông Nghĩa nhấn mạnh.
Thời điểm thuận lợi để đưa OECM vào thực tiễn
Là địa phương có nhiều tiềm năng phát triển OECMs, bà Vũ Thị Bích Hậu, Phó Giám đốc Sở NN-MT TP. Đà Nẵng cho biết, thành phố hiện có 7 khu bảo tồn thiên nhiên, 2 khu bảo tồn cảnh quan cùng nhiều khu vực có giá trị đa dạng sinh học quan trọng ngoài hệ thống khu bảo tồn chính thức.

Bà Vũ Thị Bích Hậu, Phó Giám đốc Sở NN-MT TP. Đà Nẵng cho rằng, OECM mở ra cơ hội để chuyển từ tư duy “khoanh vùng để bảo vệ” sang “kết nối để cùng gìn giữ”. Ảnh: L.A.
Theo bà Hậu, những giá trị này không chỉ được đo bằng diện tích rừng, số lượng loài hay cảnh quan, mà còn ở khả năng duy trì nguồn nước, điều hòa khí hậu, bảo vệ bờ biển, giảm thiểu rủi ro thiên tai, tạo sinh kế và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.
“Quan điểm của Đà Nẵng là bảo tồn thiên nhiên không đứng ngoài quá trình phát triển mà chính là một cấu phần của hạ tầng phát triển bền vững”, bà Hậu nhấn mạnh.
Theo bà, thực tiễn cho thấy bên cạnh các khu bảo tồn được thành lập theo quy định vẫn còn nhiều khu vực có giá trị đa dạng sinh học đang được cộng đồng, chính quyền cơ sở và các tổ chức xã hội gìn giữ hiệu quả. Qua mô hình cộng đồng bảo vệ sinh cảnh voọc chà vá chân xám tại Tú Mỹ và mô hình cộng đồng quản lý nguồn lợi thủy sản tại Bà Đậu, có thể thấy khi người dân được nhìn nhận là chủ thể quản trị, chủ thể hưởng lợi và đồng thời là chủ thể chịu trách nhiệm thì hiệu quả bảo tồn sẽ bền vững hơn.

Ông Văn Ngọc Thịnh, Tổng Giám đốc WWF-Việt Nam cho rằng, đây là thời điểm thuận lợi để Việt Nam từng bước đưa OECM vào thực tiễn. Ảnh: L.A.
“Thiên nhiên không tồn tại theo ranh giới hành chính và đa dạng sinh học cũng không chỉ được bảo vệ trong ranh giới các khu bảo tồn. OECM mở ra cơ hội để chuyển từ tư duy “khoanh vùng để bảo vệ” sang “kết nối để cùng gìn giữ”; từ việc chỉ quan tâm đến diện tích sang coi trọng hiệu quả quản trị; từ trách nhiệm của cơ quan quản lý sang sự tham gia có trách nhiệm của toàn xã hội”, bà Hậu chia sẻ.
Bổ sung góc nhìn từ thực tiễn quốc tế, ông Văn Ngọc Thịnh, Tổng Giám đốc WWF-Việt Nam cho biết, qua nhiều năm đồng hành cùng các địa phương, đặc biệt tại khu vực Trung Trường Sơn, WWF nhận thấy công tác bảo tồn sẽ hiệu quả hơn khi các khu bảo tồn được kết nối với những khu vực tự nhiên có giá trị đa dạng sinh học đang được nhiều chủ thể quản lý tốt. Bên cạnh đó, quan điểm về bảo tồn hiện nay đã có nhiều thay đổi. Nếu trước đây công tác bảo tồn chủ yếu dựa vào các khu bảo tồn do Nhà nước quản lý thì nay cộng đồng được nhìn nhận là chủ thể quan trọng. Người dân tự nguyện gìn giữ hệ sinh thái trên chính mảnh đất của mình, vì vậy cần có cơ chế để ghi nhận, hỗ trợ và phát huy vai trò của cộng đồng trong bảo tồn thiên nhiên.

Người dân được nhìn nhận là chủ thể quản trị, chủ thể hưởng lợi và đồng thời là chủ thể chịu trách nhiệm thì hiệu quả bảo tồn sẽ bền vững hơn. Ảnh: L.A.
Tại hội thảo, các chuyên gia và nhà khoa học chia sẻ nhiều kinh nghiệm quốc tế về xây dựng thể chế, chính sách, tiêu chí công nhận và phương thức quản lý OECM, qua đó tạo thêm cơ sở khoa học và thực tiễn để Việt Nam từng bước hoàn thiện cơ chế triển khai phù hợp trong thời gian tới.
Nguồn: Báo NN-MT

