Tác động của hiện tượng xâm nhập mặn, triều cường và sạt lở tại các khu vực ven biển đang đặt ra yêu cầu kết hợp giữa nhiệm vụ bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế cho cộng đồng địa phương. Theo số liệu từ Chi cục Kiểm lâm và Đa dạng sinh học tỉnh Vĩnh Long, sau quá trình sắp xếp đơn vị hành chính, địa phương hiện quản lý hơn 16.121 ha đất có rừng, trong đó phần lớn là hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển. Nguồn tài nguyên này đóng vai trò quan trọng trong việc phòng hộ bờ biển, bảo tồn đa dạng sinh học và hấp thụ carbon. Hiện nay, ngành lâm nghiệp của địa phương đang ưu tiên bảo vệ toàn bộ diện tích hiện có, kết hợp phục hồi bằng các loài cây bản địa và gắn liền công tác quản lý rừng với các hoạt động sinh kế thực tế.

Rừng ngập mặn giúp bảo vệ bờ biển và tạo sinh kế cho người dân vùng ven biển
Hệ thống rễ cây trong rừng ngập mặn tạo thành môi trường sống và vườn ươm tự nhiên cho các loài thủy sinh. Để khôi phục các khu vực rừng suy thoái, việc lựa chọn đúng giống cây bản địa có khả năng chống chịu tốt với nguồn nước lợ và mặn như đước đôi, đưng, bần chua hoặc bần ổi là yếu tố then chốt. Trên các đầm nuôi đã đắp liếp, người dân có thể thu hái trụ mầm đước vào khoảng tháng 8 đến tháng 9 để gieo trồng trực tiếp với mật độ khoảng 3.300 cây/ha, kết hợp trồng dặm liên tục trong 3 năm đầu để bảo đảm tỷ lệ sống.
Bên cạnh mật độ trồng, vấn đề quản lý môi trường đầm nuôi cũng đòi hỏi các biện pháp kỹ thuật phù hợp. Quá trình lá đước rụng và phân hủy tuy cung cấp dưỡng chất tự nhiên nhưng nếu tích tụ quá mức sẽ sinh ra các khí độc gây hại cho vật nuôi. Do đó, quy trình vận hành ao nuôi cần bao gồm khâu cải tạo đáy, xử lý bằng vôi và men vi sinh, kết hợp duy trì dòng nước lưu thông thường xuyên. Chuyên gia IUCN cũng khuyến nghị người dân áp dụng mô hình nuôi kết hợp đa loài gồm tôm, cua, cá, sò và các loài thân mềm khác nhằm tận dụng nguồn thức ăn tự nhiên, hạn chế rủi ro dịch bệnh và đa dạng hóa nguồn thu nhập.
Tại khóm Cồn Tàu, phường Trường Long Hòa, mô hình kết hợp giữa bảo vệ rừng và nuôi trồng thủy sản đang được triển khai trên thực địa. Hiện toàn khóm có 351 hộ dân sống phụ thuộc vào nghề nuôi trồng và khai thác thủy sản. Để nâng cao hiệu quả, Tổ hợp tác tôm sạch Cồn Tàu được thành lập với khoảng 20 thành viên, tập trung ứng dụng quy trình nuôi tôm sinh thái dưới tán rừng. Việc chuyển đổi từ rừng phòng hộ sang rừng sản xuất đã tạo điều kiện cho người dân chủ động khai thác cây gỗ đến tuổi và trồng gối vụ, vừa tăng nguồn thu vừa duy trì độ che phủ của rừng.
Chia sẻ về hiệu quả sản xuất, ông Lý Minh Hoàng, Tổ trưởng Tổ hợp tác Tôm sú rừng Cồn Tàu với hơn 35 năm kinh nghiệm, cho biết sự thay đổi chủ yếu đến từ việc áp dụng kỹ thuật vào sản xuất, từ khâu tuyển chọn giống, xử lý nguồn nước đến dùng chế phẩm sinh học. Với quy mô diện tích khoảng 5 ha, mô hình nuôi sinh thái của gia đình ông đạt sản lượng khoảng 400 – 500 kg tôm mỗi năm, mang lại mức thu nhập dao động từ 200 – 300 triệu đồng, chưa tính đến nguồn thu từ khai thác gỗ đước.
Về định hướng trong thời gian tới, đại diện cộng đồng dân cư khóm Cồn Tàu kiến nghị các cấp ngành xem xét đầu tư hoàn thiện hệ thống giao thông và điện lưới phục vụ vận chuyển vật tư, thu hoạch sản phẩm và ứng dụng kỹ thuật mới. Đồng thời, tổ hợp tác đang chuẩn bị các điều kiện để nâng cấp lên mô hình hợp tác xã, hướng đến xây dựng thương hiệu và chứng nhận chuẩn OCOP cho hai dòng sản phẩm chính là “Tôm sú rừng Cồn Tàu” và “Cua sạch rừng Cồn Tàu”.
NBCA

