Phê duyệt Chương trình điều tra, kiểm kê, quan trắc đa dạng sinh học tại các khu bảo tồn thiên nhiên đến năm 2030

Ngày 24/7/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành Quyết định số 2878/QĐ-BNNMT về việc phê duyệt Chương trình điều tra, kiểm kê, quan trắc đa dạng sinh học tại các khu bảo tồn thiên nhiên đến năm 2030.

Mục đích của Chương trình nhằm cụ thể hóa và tổ chức hiệu quả Quyết định số 2067/QĐ-TTg ngày 8/12/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Kiểm kê, quan trắc, lập báo cáo và xây dựng cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050”; bám sát mục tiêu, nội dung và nhiệm vụ trọng tâm của Đề án để xây dựng chương trình và kế hoạch triển khai đồng bộ, hiệu quả. Đề ra các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong giai đoạn 2026 – 2030, phân công trách nhiệm cụ thể, tiến độ thực hiện để các cơ quan, đơn vị triển khai; đánh giá được cụ thể các chỉ tiêu đa dạng sinh học và công tác quản lý, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên tại các khu bảo tồn thiên nhiên. Xác định cụ thể sự tham gia của các cơ quan, đơn vị có liên quan và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực thực hiện Chương trình.

Chương trình được triển khai trên phạm vi toàn quốc, nhằm đánh giá đầy đủ hiện trạng, xu hướng biến động của các hệ sinh thái và loài sinh vật; đồng thời tạo nền tảng dữ liệu thống nhất phục vụ công tác quản lý, bảo vệ thiên nhiên.

Nội dung của Chương trình gồm có 03 phần như sau:

1. Điều tra, kiểm kê, quan trắc đa dạng sinh học tại các khu bảo tồn thiên nhiên

a) Điều tra, kiểm kê, quan trắc hệ sinh thái tự nhiên, gồm các chỉ tiêu về diện tích, chất lượng đối với:

– Hệ sinh thái rừng;

– Hệ sinh thái đất ngập nước;

– Hệ sinh thái rạn san hô;

– Hệ sinh thái thảm cỏ biển.

b) Điều tra, kiểm kê, quan trắc các loài sinh vật trong khu bảo tồn thiên nhiên, gồm:

– Điều tra, kiểm kê, quan trắc các chỉ tiêu về số lượng cá thể, số lượng quần thể, thành phần loài, tần suất xuất hiện của các loài động vật, động vật đặc hữu, động vật nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ, động vật bị đe dọa theo Sách đỏ Việt Nam và đề xuất các giải pháp quản lý, bảo tồn hiệu quả;

– Điều tra, kiểm kê, quan trắc các chỉ tiêu về diện tích, thành phần và xu thế biến động các loài thực vật, thực vật đặc hữu, thực vật nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ, thực vật bị đe dọa theo Sách đỏ Việt Nam và đề xuất các giải pháp quản lý, bảo tồn hiệu quả.

2. Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học tại các khu bảo tồn thiên nhiên

– Cơ sở dữ liệu dạng số được xây dựng đồng bộ, thống nhất bao gồm các chỉ tiêu về diện tích, chất lượng hệ sinh thái rừng, hệ sinh thái đất ngập nước, hệ sinh thái rạn san hô, hệ sinh thái thảm cỏ biển và các chỉ tiêu về số lượng, thành phần loài động vật, thực vật trong các hệ sinh thái.

– Cơ sở dữ liệu bản đồ được biên tập trên nền hệ tọa độ VN2000 về diện tích các hệ sinh thái, phân bố thành phần loài động vật, thực vật và các vị trí xuất hiện của các loài động vật nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, loài bị đe dọa có trong Sách đỏ Việt Nam.

3. Nâng cao năng lực điều tra, kiểm kê, quan trắc đa dạng sinh học

– Tổ chức các chương trình đào tạo, tập huấn nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ của Ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên trong nghiên cứu khoa học, chuyên môn về điều tra đa dạng sinh học, phân loại học các loài động vật, thực vật hoang dã, nguy cấp, quý hiếm, các loài trong Sách đỏ Việt Nam; nâng cao năng lực về thu thập thông tin, khai thác và vận hành cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học.

– Tổ chức các lớp đào tạo, tập huấn nâng cao năng lực cho cán bộ, chuyên viên các cơ quan, đơn vị trong thực thi pháp luật về đa dạng sinh học và các pháp luật có liên quan; tổ chức triển khai điều tra đa dạng sinh học; xây dựng và vận hành cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học.

Theo kế hoạch, trong năm 2026, các đơn vị chuyên môn sẽ xây dựng định mức kinh tế – kỹ thuật về điều tra, kiểm kê, quan trắc đa dạng sinh học. Giai đoạn 2027-2028 tiếp tục hoàn thiện các định mức chuyên ngành; từ năm 2027 đến năm 2030 triển khai điều tra tại các khu bảo tồn thiên nhiên. Hoạt động đánh giá loài nguy cấp, quý, hiếm và cập nhật cơ sở dữ liệu quốc gia được thực hiện hằng năm; chương trình sẽ được tổng kết vào năm 2030.

Cục Bảo tồn thiên nhiên và Đa dạng sinh học là cơ quan đầu mối, chịu trách nhiệm hướng dẫn, theo dõi, tổng hợp kết quả và quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia. Các đơn vị chuyên ngành về lâm nghiệp, thủy sản, biển và hải đảo phối hợp xây dựng quy trình kỹ thuật, dữ liệu thuộc phạm vi quản lý.

Nguồn lực thực hiện được bảo đảm từ ngân sách trung ương, ngân sách địa phương cùng các nguồn tài trợ, viện trợ và nguồn kinh phí hợp pháp khác. Qua đó, Chương trình hướng tới hình thành hệ thống dữ liệu đầy đủ, cập nhật và thống nhất, tạo nền tảng nâng cao hiệu quả quản lý, bảo tồn đa dạng sinh học trên phạm vi cả nước.

NBCA