Khu Dự trữ Sinh quyển miền Tây Nghệ An đang từng bước kết hợp bảo tồn tài nguyên thiên nhiên với phát triển kinh tế và cải thiện sinh kế cộng đồng. Trong giai đoạn tới, địa phương định hướng tăng cường hợp tác quốc tế, ứng dụng khoa học – công nghệ và phát huy giá trị các sản phẩm bản địa.
Theo kết quả đánh giá định kỳ 10 năm, giai đoạn 2017-2027, Khu Dự trữ Sinh quyển miền Tây Nghệ An đã triển khai 164 đề tài, dự án nghiên cứu khoa học – công nghệ, tập trung vào các lĩnh vực nông nghiệp, môi trường, tài nguyên thiên nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học. Trong đó, dự án “Lồng ghép quản lý tài nguyên thiên nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học” được thực hiện từ năm 2019 đến năm 2024 với sự tài trợ của Quỹ Môi trường toàn cầu (GEF) và Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP), góp phần nâng cao năng lực quản lý và thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng trong công tác bảo tồn.

Khu Dự trữ Sinh quyển miền Tây Nghệ An triển khai 164 đề tài, dự án nghiên cứu khoa học – công nghệ và các chương trình hợp tác quốc tế nông nghiệp môi trường, tài nguyên thiên nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học.
Hoạt động hợp tác quốc tế còn được mở rộng thông qua việc Ban Quản lý Khu Dự trữ Sinh quyển miền Tây Nghệ An tham gia Mạng lưới Toàn cầu Khu Dự trữ Sinh quyển (WNBR), Mạng lưới Khu Dự trữ Sinh quyển châu Á – Thái Bình Dương cùng nhiều mạng lưới chuyên môn khác. Đơn vị duy trì quan hệ với các tổ chức như UNDP, UNEP, Ngân hàng Thế giới (World Bank), USAID, JICA, KfW, IUCN, WWF, FFI, WCS, BirdLife International và SNV. Các chương trình hợp tác tạo điều kiện tiếp cận kinh nghiệm, phương pháp quản lý và công nghệ phục vụ bảo vệ hệ sinh thái.
Những chuyển biến trong quản lý tài nguyên rừng được thể hiện qua các số liệu đến năm 2026. Tổng diện tích đất có rừng của khu vực đạt hơn 967.000 ha, trong đó rừng tự nhiên chiếm hơn 780.000 ha. So với năm 2017, diện tích đất có rừng tăng hơn 105.900 ha, độ che phủ thảm thực vật rừng tăng từ 66,3% lên 69,07%. Số loài được ghi nhận qua hoạt động điều tra, nghiên cứu đa dạng sinh học cũng tăng từ 3.961 loài năm 2017 lên 5.105 loài năm 2027. Công tác quản lý, giám sát từng bước ứng dụng các công nghệ như SMART, GIS, GPS, bẫy ảnh, UAV flycam tầm nhiệt, FORMIS và Terra-i; Vườn Quốc gia Pù Mát còn thí điểm sử dụng camera AI để nhận diện.
Bên cạnh bảo tồn, việc tạo sinh kế cho người dân được xác định là nhiệm vụ cần thực hiện song song. Năm 2024, hơn 221.700 ha rừng tự nhiên được giao khoán bảo vệ cho hơn 23.000 hộ gia đình, cá nhân; hơn 45.800 ha được giao cho cộng đồng. Nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng đạt hơn 120,68 tỷ đồng, trong khi tiền bán tín chỉ carbon theo ERPA đạt hơn 122,1 tỷ đồng.
Các mô hình phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, dược liệu, sản phẩm OCOP và du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng đang được định hướng nhằm gia tăng giá trị tài nguyên bản địa. Đến năm 2025, toàn khu có 180 sản phẩm OCOP, 25 xóm, bản phát triển du lịch cộng đồng với 69 homestay. Trong giai đoạn 2017-2025, khu vực đón hơn 4 triệu lượt khách. Đáng chú ý, dự án nhân rộng mô hình cây mét do GEF-SGP hỗ trợ 1,6 tỷ đồng đã phục tráng hơn 500 ha và trồng mới hơn 130 ha, góp phần gắn khai thác tài nguyên với phát triển sản xuất.
Với quy mô khoảng 1,3 triệu ha và dân số hơn 1 triệu người, Khu Dự trữ Sinh quyển miền Tây Nghệ An đặt ra yêu cầu kết hợp bảo vệ hệ sinh thái với phát triển kinh tế – xã hội. Định hướng giai đoạn 2027-2037 là lựa chọn các chương trình hợp tác quốc tế phù hợp với nhu cầu thực tế, tập trung vào nâng cao năng lực quản lý, phục hồi hệ sinh thái, nghiên cứu đa dạng sinh học, ứng dụng công nghệ giám sát rừng, phát triển chuỗi giá trị sản phẩm địa phương và cải thiện sinh kế người dân vùng đệm.
NBCA

